Đám trẻ chúng tôi, giá vé chỉ bằng nửa người lớn nên chiếm lực lượng hùng hậu trong sân. Dù vậy, nhiều đứa vẫn không có tiền mua, đành chọn giải pháp leo rào hoặc leo lên bờ tường ngồi xem. Không chỉ con nít đến sớm, mấy người già còn đến sớm hơn, vì cải lương vốn là món ruột của họ. Có người mang theo cái đèn ve, người thì bó đuốc làm bằng tàu dừa, để lúc về soi đường mà đi. Đi xem cải lương cũng là dịp thuận tiện để nam thanh nữ tú hẹn hò. Họ nấn ná rất lâu ngoài cổng để tìm bạn, tán gẫu. Biết bao mối tình thôn quê đã đơm hoa từ những buổi biểu diễn như thế.
Không ghế, không quạt, âm thanh lúc nghe được, lúc không, vậy mà ai nấy vẫn luôn tập trung dõi theo những khóc cười cùng ông hoàng bà chúa trên sân khấu. Có lần diễn viên diễn cảnh vua yêu quý phi, hoàng hậu tức quá, bày mưu hãm hại, đám trẻ chúng tôi thấy “chuyện bất bình” liền chọi đá lên sân khấu. Lúc quý phi uống chén thuốc dưỡng thai do hoàng hậu đưa, đám con nít la ó “có độc đó, đừng uống”. Mấy bà già thì rủa “đàn bà gì mà độc ác dữ”.
Sáng ra, đám con nít đi học, thấy đoàn diễn viên còn đang dọn dẹp chuẩn bị xuống ghe, liền bu đông nghẹt. Có một cụ bà mang rổ bắp còn nóng hổi biếu đoàn, bảo: “Hồi tối má coi tụi bây diễn đã quá trời, mai mốt nhớ về thường nghe. Mà nè, má cho tụi bây ăn bắp nhưng không cho con hoàng hậu ăn. Nó ác quá, cho nó nhịn”. Ai cũng cười rần rần.
Hơn 30 năm trôi qua, quê tôi giờ không còn những buổi biểu diễn cải lương sống động như thời đó. Giải trí bây giờ đã có tivi, rạp chiếu phim hiện đại hơn, tiện nghi hơn, nhưng lòng tôi vẫn nhớ mãi cảm giác đợi chờ những đêm diễn giữa trời, vui buồn cùng nhân vật trong những vở diễn ngày ấy.
Theo Báo Phụ Nữ