 
( Lãnh đạo Bộ VHTTDL và Uỷ Ban Nhân Dân TPHCM, Hội Sân khấu VN, Hội sân khấu TPHCM đến chúc mừng chương trình
"Chiếc áo thiên nga- CT Hội ngộ tài năng năm 2008"
Lịch sử hình thành và phát triển
Nhà hát cải Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang là một nhà hát quốc gia hạng nhất, được thành lập
theo quyết định số 119/VH – QĐ ngày 15/9/1976 của Bộ Văn Hoá. Giữa năm 1998 sáp nhập với
Đoàn Văn Công Thành Phố theo quyết định số 3155/1998/QĐ – UB – NCVX ngày 16/06/1998 của
UBND TP. Hồ Chí Minh, trực thuộc Sở Văn Hóa Thông Tin TPHCM.( nay là Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch TPHCM)
Tiền thân Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang là Đoàn cải lương Nam Bộ, Đoàn cải lương giải phóng và
Đoàn cải lương Văn Công khi Sài Gòn – Gia Định.
Trong quá trình hoạt động và phát triển Nhà hát đã gặt hái những thành công nhất định.
Nhiều tác phẩm đạt giải thưởng cao, đứng được trong lòng công chúng như: Nàng xê Đa,
Thái hậu Dương Vân Nga, Chim Việt cành Nam, Kiều Nguyệt Nga, Đêm phán xét, Rạng ngọc Côn Sơn,
Nàng hai Bến Nghé, Muôn dặm vì chồng, Tâm sự Ngọc Hân, Cây sầu Riêng Trổ Bông, Đời cô Lựu,
Nhảy múa với quỷ dữ, Rồng phượng, Trái tim em nói thế, Bản tình ca quê mẹ, Lũ rừng,
Cung đàn nào cho em, Cổ tích thời hiện đại….
Nhà hát được Nhà Nước phong tặng
Huân chương kháng chiến hạng nhất ( Đoàn Văn Công TP)
Huân chương lao động hạng hai
Là Nhà hát duy nhất mang tên cố soạn giả - NSND - Giải thưởng Hồ Chí Minh: Ông Trần Hữu Trang
Hai Huân chương lao động hạng ba vào năm 1999 cho hai đơn vị: Trường Đào Tạo và Đoàn Xung Kích
Trụ sở: 515 - 517,Trần Hưng Đạo, Quận I, TPHCM Điện thoại : 39200662 – 39201303 – 3.8367725 – 3.8375398
Ông: Phan Quốc Hùng - Giám đốc Nhà hát

Giám đốc : Phan Quốc Hùng
Phó giám đốc: Nguyễn Văn Hồng
Trưởng phòng Nghệ Thuật: Nguyễn Thị Huỳnh Mai
Trưởng phòng tổ chức: Nguyễn Nhật Lệ
Trưởng phòng tài vụ: Nguyễn Kim Mai
Các đơn vị trực thuộc Nhà hát:
Đoàn 1 – (Đoàn Văn Công TP ),Đoàn 2, Phòng Nghệ Thuật, Rạp Hưng Đạo và
các Nhóm XHH Vũ Luân, Nhóm Những Dấu ấn không phai, Nhóm Thắp sáng niềm tin và Chương
trình Hội Ngộ Tài Năng
Chức năng và nhiệm vụ Nhà hát
- Xây dựng và tổ chức biểu diễn nghệ thuật cải lương phục vụ nhân dân Thành phố, cả nước,
nước ngoài ( khi có yêu cầu )
- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ, diễn viên, đạo diễn,
nhân viên kỹ thuật….của Nhà hát để có đủ kiến thức, tiêu chuẩn theo qui chế mà Bộ Văn hoá,
Thể thao và Du lịch ban hành. Tổ chức nghiên cứu, thể nghiệm về nghệ thuật cải lương.
Không ngừng nâng cao tính tư tưởng, tính nghệ thuật, tính thẩm mỹ, trong các tác phẩm sân khấu,
xứng đáng là một Nhà hát mang đẳng cấp quốc gia.
- Sản xuất và phát hành Audio, video để phục vụ rộng rãi công chúng
- Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang vốn là một Nhà hát năng động, luôn tìm tòi thể nghiệm
những cái mới lạ trong nghệ thuật, đem đến cho khán giả những điều hết sức thú vị và bổ ích.
- Đồng thời Nhà hát tổ chức nhiều khoá đào tạo diễn viên trẻ kế thừa loại hình sân khấu
cải lương và đưa sân khấu du lịch đến phục vụ khán giả nước ngoài. Mở rộng và phổ biến sân khấu
học đường đến với các học sinh vùng sâu vùng xa TPHCM – để thu hút giới trẻ đến với nghệ thuật
cải lương
- loại hình nghệ thuật dân tộc cần giữ gìn và phát huy.
- Bên cạnh đó, hàng năm Nhà hát tổ chức những chương trình “ Hội Ngộ Tài Năng”
tại Nhà thi đấu Quân Khu 7 với âm thanh ánh sáng, kỹ thuật và cảnh trí, trang phục hiện đại,
qui tụ nhiều nghệ sĩ, ca sĩ, diễn viên hài ...tham gia thường xuyên diễn ra vào dịp Tết cổ truyền .
Đôi nét về soạn giả Trần Hữu Trang

Nghệ thuật cải lương hình thành ở Nam Bộ, những thập niên đầu tiên của thế kỷ này, như là
kết quả của sự dung hợp ảnh hưởng của hai nền văn hóa Đông - Tây đang diễn ra ở nước ta,
nói rõ hơn đó chính là cái gạch nối kỳ diệu giữa kịch hát truyền thống dân tộc với kịch nói đang
được du nhập, do vậy nhanh chóng phổ biến cả nước, để rồi trở thành một hình thức luôn giữ
vai trò quan trọng trong nền sân khấu dân tộc hiện đại.
Nghệ sĩ Trần Hữu Trang sinh năm 1906, tại xã Phú Kiết, huyện Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho
(nay thuộc tỉnh Tiền Giang) tuy không thuộc vào lớp nghệ nhân có công đặt viên gạch nền
móng cho sự ra đời của cải lương, nhưng chính ông sau đó lại góp phần mở đường cho
sự nghiệp xây dựng nền nghệ thuật cải lương cách mạng ở miền nam.
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân ở vùng đất có truyền thống yêu nước,
chống ngoại xâm, nơi Thủ Khoa Huân dũng liệt, bất khuất ngã xuống trước làn đạn quân thù,
khi chúng chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Bộ, nơi Trương Định khảng khái chống giặc,
chính miền quê này cũng là cái nơi phát sinh và phát triển sân khấu cải lương ngay từ
buổi rạng đông. Tắm mình trong môi sinh văn hóa đó suốt những năm tháng của tuổi thơ,
kịp đến khi trưởng thành, bước vào cuộc sống tự lập, ông luôn gắn bó với tiếng đàn, tiếng hát,
với nghệ thuật cải lương, để rồi thật sự dấn thân vào nghiệp cầm ca một cách tự nguyện,
say mê. Lúc đầu, trong vai trò khiêm nhường của người thư ký ghi chép kịch bản, bằng ý chí
và nỗ lực tự học, bằng khả năng vốn có, dù chỉ tốt nghiệp văn hóa bậc tiểu học,
Trần Hữu Trang đã vươn lên trở thành nhà soạn giả, rồi tác giả của sân khấu cải lương khi
tuổi còn rất trẻ. Từ kịch bản đầu tay Lửa đỏ lòng son xuất hiện năm 1928, lúc ông mới ngoài 20 tuổi,
đến vở diễn Tâm hồn nghệ sĩ tuy còn nhiều vụng về, non nớt nhưng đã bộc lộ những dấu hiệu
đáng hy vọng về sự ra đời của một tác giả sân khấu tương lai mang nhiều nhân tố mới mẻ trong
nội dung cũng như trong hình thức nghệ thuật, đó là khả năng hướng cải lương vào những vấn đề
xã hội đương thời, với một bút pháp hiện thực nghiêm ngặt.
Có thể nói những năm 30 là thời kỳ tài năng nghệ thuật của Trần Hữu Trang chín muồi và
nở rộng với hàng loạt sáng tác tiêu biểu như Tô Aánh Nguyệt (1934), Lan và Điệp (1936),
nhất là Đời cô Lựu (1937) được ghi nhận như là một trong những đỉnh cao của sân khấu cải lương
trước Cách mạng Tháng Tám. Giữa lúc nền cải lương công khai dưới chế độ thuộc địa đắm chìm trong
vở diễn đậm màu sắc lãng mạn hoặc thiên về tình yêu đôi lứa ướt át, hoặc dừng lâu ở những cảnh đời
éo le bi lụy của một thời xưa cũ xa cách với hiện thực xã hội đương thời, thì những tiết mục của
Trần Hữu Trang với cái nhìn tiến bộ, sắc sảo trực diện phơi bày những số phận của những tầng lớp
nhân dân bị áp bức bóc lột, bần cùng hóa như là nạn nhân của bọn thực dân cướp nước, câu kết
với bè lũ phong kiến, địa chủ gian ác, từ đó nhen lên ngọn lửa bất bình, công phẫn với cường quyền,
đồng thời nuôi dưỡng tinh thần yêu nước, ý chí đòi quyền sống, đòi tự do, dân chủ trong lòng công
chúng rộng rãi.
Tiếp tục mạch sáng tạo dồi dào đó, Trần Hữu Trang còn cho ra đời liên tiếp nhiều kịch bản đáng
chú ý khác như Tìm hạnh phúc, Mộng hoa vương, Chị chồng tôi, Tình lụy, hay cộng tác với Năm Châu,
Lê Hoài Nở hoàn thành vở diễn Khi người điên biết yêu nổi tiếng đề cập những tấn kịch của tình yêu
và hôn nhân đôi lứa nhưng biết đặt nó trong tương quan với hoàn cảnh xã hội đương thời nên vẫn
thấm đượm giá trị tố cáo, vạch trần những tệ nạn và sự thối nát của xã hội thuộc địa, lên tiếng
bênh vực những khát vọng giải phóng con người thoát khỏi mọi dây trói của lễ giáo, hủ tục, cũng như
những bất công ngang trái...
Từ tinh thần yêu nước, Trần Hữu Trang đã chuyển dần sang tư tưởng cách mạng dưới sự
lãnh đạo của Đảng trở thành người nghệ sĩ kiểu mới, nghệ sĩ - chiến sĩ, tự giác tham gia
có hiệu quả bằng sáng tạo nghệ thuật vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Nếu ở thời kỳ tiền khởi nghĩa, Trần Hữu Trang đã có những tiếp xúc với các chiến sĩ cộng sản
hoạt động bí mật thì sau Cách mạng Tháng tám, ông đã có lúc tạm rời sân khấu để trực tiếp
tham gia kháng chiến cứu nước trong cương vị Chủ tịch Uủy ban kháng chiến xã Phú Kiết quê hương
để rồi năm 1947, được điều động vào nội thành Sài Gòn làm công tác vận động văn nghệ sĩ,
trí thức trở về gắn bó với cải lương, liên tục cho đến sau Hội nghị Giơ-ne-vơ (1954) - tiếp tục
đấu tranh cho độc lập và thống nhất đất nước trong những điều kiện mới. Vượt qua bao nhiêu
nguy hiểm, Trần Hữu Trang lăn lộn với phong trào sân khấu lúc công khai, khi bí mật, tập hợp
giác ngộ những hạt nhân, giữ cho truyền thống yêu nước không bị gián đoạn, tiến tới thành lập
được chi bộ đảng trong các đoàn hát giữa lòng thành phố tạm chiếm. Khi Mặt trận dân tộc
giải phóng miền nam được thành lập, Trần Hữu Trang ra vùng giải phóng trở thành thành viên
của UBTƯ Mặt trận, rồi là một trong những người góp phần sáng lập Hội Văn nghệ giải phóng
miền nam và được bầu làm Chủ tịch Hội, luôn có mặt ở khắp nơi, ngay cả dưới tầm đạn của
kẻ thù để xây dựng một nền sân khấu cải lương cách mạng trong vùng giải phóng đang không
ngừng mở rộng. Trên những cương vị công tác suốt hai cuộc kháng chiến này, ngọn bút của ông
không thể sung mãn như trước, nhưng ông vẫn ấp ủ, thai nghén những dự định viết nên những
kịch bản mới. Năm 1946, ông cho ra đời vở diễn Hậu chiến trường, mãi gần 20 năm sau ông
mới bắt tay viết về những giây phút làm nên lịch sử trong cuộc đời của người thanh niên
cách mạng - cảm tử Nguyễn Văn Trỗi với cái chết đang là sự kiện làm rung chuyển dư luận
tiến bộ trên toàn thế giới. Kịch bản còn ở tình trạng bản thảo, Trần Hữu Trang vẫn nung nấu
ý định sửa chữa hoàn thiện, nhưng sẽ chẳng thể nào có cơ hội thực hiện được. Vì, trên đường
đi công tác, một ngày đầu tháng 10-1966, tại Suối Cây vùng Sa Mát, trận bom B52 của
đế quốc Mỹ đã cướp đi vĩnh viễn sinh mạng của ông.
Trần Hữu Trang không có mặt trong hàng ngũ văn công giải phóng từ khu căn cứ trở
về Sài Gòn ngày toàn thắng, nhưng những vở diễn của ông như Đời cô Lựu lại hiện diện
trên sân khấu những ngày náo nức ấy của lịch sử. Trần Hữu Trang đã ngã xuống, chưa kịp
nhìn thấy mơ ước của ông trở thành hiện thực nhưng những sáng tác mà ông để lại, những
cống hiến của ông cho sân khấu cải lương cách mạng và cho sự nghiệp giải phóng đất nước
đủ xếp ông lên vị trí một tác giả lớn của nền sân khấu Việt Nam hiện đại. Vì tất cả những
thành tựu trong nghệ thuật và sự cống hiến cho đất nước, tên ông đã được đặt cho một
Nhà hát cải lương ở TPHCM, một trường học, một đường phố và cũng đồng thời là tên của một
giải thưởng sân khấu lớn ở thành phố Hồ Chí Minh, nơi mà ông gần suốt cuộc đời gắn bó với nó,
để cho thế hệ sinh sau nhớ đến một con người sống xứng đáng với danh hiệu của
con người chân chính, một nghệ sĩ đã biết dâng hiến tài năng của mình cho một
lý tưởng cao đẹp - vì độc lập, tự do của dân tộc.
Nguyễn Văn Thành (Viện Sân khấu)
|