View Full Version : Một số giai thoại Trạng Trình
Kimnamlang
10-09-2008, 10:15 PM
Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm tân hợi 1491, thuộc đời vua Lê Thánh Tông Hồng Ðức thứ 22 tại thôn Trung An, làng Cổ An, huyện Vĩnh Bảo Hải Dương. Thân phụ cụ Văn Ðình, thân mẫu Nhữ Thị Thục, người đất Tiên Minh, làng An Tử hạ. Ngoại của Nguyễn Bỉnh Khiêm là Nhữ Văn Lan, đã làm rạng rỡ dòng họ và quê hương với bảng vàng tiến sĩ, khoa thi năm Quí mùi, niên hiệu Quang Thuận, đời Lê Thánh Tông, được nhà Vua tin dùng, phong chức Thượng thư bộ Hộ.
Theo tài liệu để lại bà Nhữ Thị Thục là bậc nữ lưu tài hoa vào bậc nhất chốn kinh kỳ thời bấy giờ. con gái Hộ bộ thượng thư Nhữ văn Lân, được phong là Từ thục phu nhân. Bà giỏi văn chương và tài học về Lý số. Biết trước những gì có thể xảy ra và mộng lớn con cái nên danh phận không thể chờ thời. Như Nguyễn Du đã viết sau nầy “xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều” .Trạng Trình có người em cũng tài giỏi về lý số, người đời gọi là Trạng Bùng Phùng Khắc Khoang cùng mẹ khác cha. Nguyễn Bỉnh Khiêm huý là Văn Đạt, tự Hanh Phủ, người làng Trình Tuyền (Trung An), huyện Lĩnh Lại, tỉnh Hải Dương, nay thuộc huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng.
Nguyễn Bỉnh Khiêm học giỏi tính toán biết nhà Lê Trung Hưng, nên chờ đúng số mệnh năm 44 tuổi dự thi đỗ Giải Nguyên. Sau đó đỗ Giải Nguyên đời nhà Mạc (1527-1592), làm việc bên cạnh Tả thị Lang, Ðông Các Ðại Học Sĩ, làm quan được 8 năm, ông dâng sớ hạch tội 18 lộng thần vua nghe không. Ông cáo quan năm 1542 về vườn, lập Am gọi Bạch Vân Am và hiệu Bạch Vân Cư Sĩ mở trường dạy học cạnh sông Hàn giang còn có tên Tuyết giang nên học trò gọi ông “Tuyết giang Phu tử “ thơ mang triết lý của Thái Ất
Ngư ông bất ngộ Ðào Nguyên khách
Khởi thức hưng vong thế cổ kim
hay
Nhàn Trung hoa thảo túc Cung xuân
Tà dương độc lập đô vô sự
Lúc trẻ ông học với Lương Ðắc Bằng được truyền cho quyển “Thái ất thần kinh” từ đó ông tinh thông về Lý học,Tướng số ..Dù Nguyễn Bỉnh Khiên không còn làm quan nhưng vua Mạc Phúc Hải phong cho ông tước Trình Nguyên Hầu vào năm Giáp thìn (1544), ngụ ý đề cao ông có công khơi nguồn nghành lý học, giống như (Trình Y Xuyên,Trình Minh Ðạo bên Trung Hoa). Sau đó được thăng chức Thương thư bộ Lại tước hiệu Trình quốc Công. Từ đó người đời gọi ông là Trạng Trình.
Nhờ học phương pháp tính theo Thái ất, tiên đoán được biến cố trước và sau 500 năm. Người Trung Hoa khen Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “ An Nam lý học hữu Trình Tuyền”
Ông về ở ẩn nghiên cứu về lý số với thiên tài “thần thông” có khả năng siêu quần, quán chúng về thấu thị, về thần giao cách cảm..
Tục truyền rằng Năm Bính ngọ (1546) Mạc Phúc Hải mất truyền ngôi lại cho con Mạc Phúc Nguyên mãi đến năm mậu thân (1548) vua Trang Tông mất, Trịnh Kiểm lập Thái tử tên Duy Huyên lên ngôi tức Trung Tông được 8 năm thì mất không có con nối nghiệp. Trinh Kiểm muốn làm vua nhưng còn sợ dư luận, nên sai người đến Hải Dương hỏi ý khiến Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. ông không nói gì chỉ bảo người giúp việc ngụ ý :
“năm nay mất mùa, thóc giống không tốt, chúng mày nên tìm giống cũ mà gieo mạ, gữi chùa thờ Phật thì ăn oản.. “ Sau đó Trịnh Kiểm tìm con cháu họ Lê, lên làm vua.
Khi ở ẩn, Vua Mạc cũng như các chúa Trịnh, Nguyễn có việc hệ trọng vẫn cho người đến hỏi ý ông. Ông thường kín đáo khuyên Vua cố gắng tránh chiến tranh để nhân dân khỏi chết chóc. Trong năm Quang Thiêu (Lê Chiêu Tôn) có việc biến loạn, Nguyễn bỉnh Khiêm ở ẩn không muốn tiếng tăm với đời lúc bấy giờ Trịnh Tuy, Mạc Ðăng Dung cũng cố ý muốn tranh quyền, đánh nhau lmấy năm dài. Ông tính số Thái Ất, biết có nhà Lê lại khôi phục được làm bài thơ
Non sông nào phải buổi bình thời
Thú đánh nhau chi khéo nực cười
Cá vực, chim rừng, ai khiến đuổỉ
Núi xương sông tuyết, thảm đầy vơi
Ngựa phi chắc có hồi quay cổ
Thú dữ nên phòng lúc cắn người
Ngán ngẫm việc đời chi nói nữa
Bên đầm say hát, nhởn nhơ chơi
Lúc mất, ông được Vua Mạc truy phong tước Trình Quốc công, do đó mà có tên gọi là Trạng Trình. Ông mất ngày 28 tháng 11 năm Đinh dậu, niên hiệu Diên Thành thứ 8 nhà Mạc (1585), tròn 94 tuổi.
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhân vật văn hoá kiệt xuất của chúng ta.Ngoài ra cụ con là bậc tiên tri kỳ tài hiếm có của VN. Tình cờ xem được trên mạng, Kimnamlang xin chia sẻ cùng mọi người vài giai thoại về sự tiên tri của cụ.
Kimnamlang
10-09-2008, 10:17 PM
Sắt Ngắn, Gỗ Dài ...
Tối ba mươi Tết năm nọ , cụ Trạng đang ngồi đàm luận về lý số với một người học trò vừa mang quà lễ đến thăm. Bỗng ngoài cổng có người gọi cửa :
Cụ sai gia nhân ra bảo chờ một chút. Rồi trong khi đó cụ Trạng và người học trò bấm quẻ để thử đoán xem người gọi cổng đến nhà có chuyện gì?
Cả hai thầy trò bấm cùng một quẻ "thiết đoán mộc tràng" là "sắt ngắn , gổ dài". Cụ quay sang hỏi người học trò :
- Vậy anh đoán người ấy đến làm gì?
anh học trò trả lời :
- Thưa Thầy , sắt ngắn , gỗ dài , theo ý con , họ đến mượn cái mai đào đất mà thôi. Chứ ngoài ra không còn gì là sắt ngắn gỗ dài nữa cả.
Cụ cười cười và nói: khác với anh tôi đoán họ đến mượn cái búa. Nói xong cụ cho người mở cửa. Quả thật , người ấy đến mượn cái búa.
Anh học trò chững người ra vì sự đoán trật của mình.
Cụ giải thích :
- Như anh bấm quẻ cũng là giỏi rồi , nhưng mưc' đoán còn thấp. Anh bảo" sắt ngắn gỗ dài" mà đoán như vậy thì hỏi 30 tết người ta đến mượn cái mai để làm gì? chỉ mượn cái búa để chẻ củi nấu bánh chưng mà thôi. Bấm quẻ đã trúng , nhưng khi đoán còn phải có ý thức cơ biến nữa mới tránh sai lầm.
Người học trò bái phục Thầy vô cùng...
Kimnamlang
10-09-2008, 10:17 PM
Cha Con Thằng Khả
Sau khi Trạng mất , ở làng Cổ Am có lập đền thờ. Một hôm ở trong làng có cha con thằng Khả đi bắt chuột ở bên mộ cụ , vô ý làm đổ tấm bia trên mộ. Dân làng thấy thế mới bắt về đình phạt BA QUAN tiền vì khi tấm bia đổ xuống , thấy có hàng chữ phía sau :
Cha con thằng Khả
Đánh ngã bia tao
Làng xóm xôn xao,
Bắt đền tam quán.
Cha con thằng Khả chạy đi kiếm mãi cũng chỉ được một quan tám nhưng dân làng không chịu. Nó cãi rằng :
"Cha con tôi lỡ lầm nên cụ Trạng chê bắt phạt có QUAN TÁM. Cụ đã biết trước cha con tôi chỉ chạy được có như thế nên mới nói bắt đền TAM QUÁN. TAM QUÁN mà nói lái lại thì thành QUAN TÁM chứ không phải là ba quan.
Ai đời nếu không thế sao cả bài không có chữ nho nào nên mới dùng hai chữ nôm nói lái mà ra. Dân làng không tin hãy cứ xin âm dương trong đền cụ mà xem ".
Vì túng thế , cha con thằng Khả cải liều như vậy nhưng dân làng nghe cũng có lý mới đi lễ đền cụ xin âm dương thì quả như vậy thật.
Cứ xin hoài BA QUAN mà hai đồng tiền vẫn cứ khi thì nằm xấp cả hai , khi thì ngửa cả hai. Chỉ tới khi khấn là QUAN TÁM mới được một đồng xấp và một đồng ngửa mà thôi. Mọi người lại càng tin phục cụ Trạng nhiều hơn .
Kimnamlang
10-09-2008, 10:19 PM
Thánh Nhân Mắt Mù
Khi Trạng Trình sắp chết , ông có ghi vào gia phả và dặn con cháu rằng :
-"Bình sinh ta có một tấm bia đá sẵn và đã sơn kia. Khi ta nhắm mắt , phải để tấm bia đá ấy lên nắp quan tài rồi sẽ lấp đất lại sau.
Hễ khi nào có người lạ đến viếng mộ ta mà nói rằng "Thánh nhân mắt mù " lập tức mời người ấy về nhà , yêu cầu họ để hướng lại ngôi mộ cho ta. Chúng bay phải nhớ lời , và canh chừng , chớ không được cải cát. Nếu trái lời ta , dòng dõi về sau sẽ suy đồi lụn bại ".
Con cháu nghe lời , làm y như cách đã dặn.
Cách đó 50 năm sau, một hôm có một người Tàu đến nhìn ngôi mộ cụ Trạng , một lúc nói rằng :
"Cái huyệt ở đằng chân sờ sờ thế kia mà không biết lại đem để mã thế này. Vậy mà thánh nhân cái gì đâu??. Hay là "THÁNH NHÂN MẮT MÙ " đó.
Người trong họ nghe được , chạy về cho ông trưởng tộc hay. Ông này vội vàng ra đón người Tàu kia về nhà , xin để xoay ngôi mộ kia lại.
Khi tiếp chuyện , mới hay người Tàu đó là một nhà phong thủy trứ danh ở Trung Quốc vừa sang. Ông ta sở dĩ lại đây là vì muốn xem di tích của cụ Trạng vi` bấy lâu nay ông ta nghe tiếng đồn về Trạng...
Khi nghe nói , ông ta sẳn lòng sửa lại ngôi mộ cho , và hiu hiu tự đắc cho rằng mình là giỏi hơn Trạng Trình :
" Với cụ Trạng thực ra chỉ nghe người ta đồn chớ đến nơi được thực mục sở thị , có gì giỏi đâu??"
Ông ta bảo :
"Không cần phải đem đâu xa cả , chỉ đào lên rồi xoay lại , và nhich đi một chút là được."
Ông tộc trưởng cả mừng , tụ họp con cháu lại đưa Thầy dịa lý Tàu ra để lại ngôi mộ cho cụ Trạng.
Khi đào đến tấm bia đá , ông thầy Tàu thấy làm lạ , lại sẵn tính hiếu kỳ , ông bảo đem rửa sạch xem có những gì khi đó , những lớp sơn cũng đã mục rồi. Con cháu cụ vì tôn trọng thầy nên cũng phải chiều lòng.
Khi tấm bia đá được rửa sạch đem đến , mới thấy mấy câu thơ sau này hiện ra :
"Ngũ thập niên tiền mạch tại đầu ,
Ngũ thập niên hậu mạch quy túc ,
Hậu sinh nhĩ bối ná năng tri ,
Hà vị thánh nhân vô nhĩ muc."
có nghĩa là :
" Ngày nay mạch lộn xuống chân ,
Năm mươi năm trước mạch dâng đàng đầu.
Biết gì những kẻ sinh sau?
Thánh nhân mắt có mù đâu bao giờ?"
Khi xem xong tới bài thơ đây , ông thầy Tàu lúc đó mới phục Trạng là một vị Thánh thật , tiên tri thật. Nếu không sao biết trước những lời mình sẽ nói. Quả thật mình chỉ xứng đáng là học trò của cụ mà thôi.
Kimnamlang
10-09-2008, 10:20 PM
Cây Sà Nhà Đổ
Cũng khi sắp mất , Trạng có giao cho con cháu một cái ống tre sơn son thiếp vàng , gắn bít hai đầu và dặn đế đúng thời gian ngày tháng năm nào , giờ nào phải để ống vào kiệu , rước lên dinh tổng đốc Hải Dương , trao cái ống này cho quan thi` sẽ cứu vãn được tình thế của gia đình. Nhưng tuyệt đối không được ai mở ra xem , trừ quan Tổng Đốc.
Cái ống tre ấy truyền đến người cháu 7 đời của cụ , mới rước lên dinh quan Tổng Đốc. Đúng vào ngày giờ ghi trong gia phả. Khi quan mở ống tre , thấy một cuộn giấy , ngài rút ra xem thấy có hai câu chữ nho :
Ngã cứu nhĩ thượng lương chi ách
Nhĩ cứu ngã thất thế chi bần.
Nghĩa là:
Ta cứu mày khỏi sà nhà đổ ,
Mày cứu ta, cháu bảy đời nghèo..
Đang lúc bận việc , quan Tổng Đốc thấy 2 câu nói xấc xược gọi quan bắng mày ấy , ngài cả giận sẵn cầm chiếc quạt trong tay, ngài đứng dậy chạy lại định đánh người cháu 7 đời của Trạng Trình. Nhưng vừa bước khỏi thì chiếc sà nhà từ ngay trên chỗ đỉnh đầu đổ sập xuống đánh rầm một cái. Phúc bảy mươi đời ngài vừa mới bước ra , nên không sao cả...
Quan Tổng Đốc lúc đó mới giật mình , hồn phách tiêu tan , hiểu rõ cụ Trạng đã cứu mình khỏi chết bất đắc kỳ tử. Quan phải ân cần xin lỗi người cháu của Cụ Trạng , rồi mời về tư thất thết đãi cơm rượu , đưa một số tiền khá lớn ra giúp để cứu vãn cho gia đình con cháu cụ Trạng Trình khi đó đang lâm vào hoàn cảnh cực kỳ túng thiếu...
Kimnamlang
10-09-2008, 10:24 PM
Ngựa Đá Sang Sông
Dân miền Vĩnh Lại - nơi quê hương Trạng Trình rất hiếu học và trọng việc khoa cử. Nhưng học thì rất nhiều mà đỗ đạt thì chẳng bao nhiêu , chẳng có mấy người được làm nên những sự nghiệp lớn lao...
Trong khi các miền xung quanh phát tích không biết bao nhiêu anh hùng , hào kiệt , văn thì tiến sĩ , hoàng giáp ; võ thì đô đốc , quận công...
Thấy thế , dân miền Vĩnh Lại càng nghĩ càng lấy làm tức. Các sĩ tử mới rủ nhau đến hỏi Trạng Trình xem ra thế nào? Nhưng Cụ không trả lời , bảo: "đó là thiên cơ bất khả lậu."
Người ta cũng không hài lòng về điểm ấy của Trạng , chẳng những thế lại còn cho Cụ là một người thâm hiểm, sao biết mà không chỉ?
Nghe phong thanh tin ấy , Trạng bèn cho tạc một con ngựa lớn bằng đá để ở bên này bờ sông Vĩnh Lại. Trên lưng con ngựa, Cụ cho thợ khắc 2 câu thơ chữ nho :
"Bao giờ ngựa đá sang sông
Thì dân Vĩnh Lại..Quận Công cả làng "
Khi ngựa đá được dựng lên trên bờ sông , mọi người đều tụ tập xem. Và dân làng Vĩnh Lại , đời này sang đời khác ngong ngóng đón xem chừng nào con ngựa đá qua sông?? Để xem làng có thể phát toàn đô đốc , quận công không???
Cũng có người cho đó là ý Cụ bảo cho dân làng Vĩnh Lại biết rằng đây là một việc không bao giờ có được , cũng như câu tục ngữ :
" Bao giờ rau riếp làm đình
Gỗ lim ăn ghém thì mình lấy ta"
Rau riếp bao giờ làm đình được , gỗ lim bao giờ ăn ghém được mà hòng tình cuyện trăm năm... Cũng như ngựa đá bao giờ mà lội sang sông được , mà hòng những chức như quận công , đô đốc...
Ngày qua tháng lại , con sông Vĩnh Lại mỗi ngày một lỡ thêm để bồi sang bên kia. Thấm thoát đến cuối đời Hậu Lê , thì con ngựa đá không biết chạy mà sang qua sông thật. Sở dỉ có việc ấy là do bờ sông 2 bên bồi lở mà thay đổi...
Tới chừng đó dân làng Vĩnh lại mới nhao nhao lên chờ đón tin mừng , mọi người đều hy vọng một chức quận công , hay đô đốc sẽ tới cho đời mình...
Dân các làng khác nghe tin cũng gớm cho dân làng Vĩnh Lại. Uy tín Trạng Trình đến đây lại sống lại và đồn đi khắp nơi. Đâu đâu cũng thấy bà tán về chuyện ngựa đá ở bờ sông Vĩnh Lại sang sông.
Con gái khắp nơi thi nhau về làm dâu làng Vĩnh lại , trong bụng thầm mong rằng rồi mình cũng sẽ trở thành bà đô đốc hay quận công...
Trai làng Vĩnh Lại ngang tàng lên mặt ,trai các làng khác không ai dám động tới ngại rằng lỡ ra nay mai các cậu làm nên thì coi chừng mà toi cơm...
Đang như vậy thì cuộc chiến tranh giữa Tây Sơn và Chúa Nguyễn ở trong Nam nổ ra. Không bao lâu quân Tây Sơn thắng trận , đuổi được chúa Nguyễn rồi thừa thắng xông lên đem binh ra diệt luôn chúa Trịnh ở bắc...
Tây Sơn trả lại quyền cho nhà Lê , từ đó thoát khỏi nạn chúa Trịnh chuyên quyền. Nhưng sau khi vua Hiển Tông mất , vua Chiêu Thống lên ngôi , dòng dỏi Trịnh lại trở về. Nhà vua phải mật triệu Nguyễn Hữu Chỉnh ở Nghệ An ra giúp.
Chỉnh đem binh ra đánh đuổi và dẹp tan đám con cháu Trịnh còn sót lại. Nhưng Chỉnh lại chuyên quyền và ra mặt chống Tây Sơn...
Nguyễn Huệ thấy vậy liền sai tướng Vũ Văn Nhậm đem binh ra đánh Chỉnh. Quân Nhậm tiến gần Thăng Long, Chỉnh đêm vua chạy trốn. Nửa đường Chỉnh bị quan của Nhậm bắt sống. Còn vua thì thoát nhưng phải giả dạng là thường dân mang ấn tín trong minh` mà chạy...
Tướng Tây Sơn cho binh mã rượt theo. Nhà vua phải qua sông Vĩnh Lại và ở lại làng này...
Dân làng Vĩnh Lại cho thế là điềm tốt , điểm trời xui khiến. Mới rước vua về đình và thảo dịch chiêu mộ quân sĩ để chống với Tây Sơn.
Sẵn thấy ấn tính của nhà vua đem theo, dân làng liền bức nha vua phải ký giấy phong tước cho mình...
Tội nghiệp cho nhà vua, lúc đó còn thế lực và uy quyền gì đâu , lại ở trong tay người Vĩnh Lại , thôi thì cung điện ngai vàng còn chả tiếc được , huống chi là những chức nọ kia ! Nhà vua đành cũng phải chiều lòng. Người này được , người kia cũng tới xin tới đòi...
Ấy thế là chỉ nội mấy đêm , mấy ngày , bao nhiêu các cụ , các đinh tráng trong làng đều người thì quận công , kẻ thì đô đốc.. chỉ trừ ra mấy kẻ chưa đến tuổi trưởng thành là chịu làm bạch đinh....
Lại cả bao nhiêu các bà cũng đều được phong chức phu nhân...
Phong tước xong , nhà vua giã từ để chạy sang nơi khác. Thế là làng Vĩnh Lại chỉ nội mấy ngày đã thành quận công , đô đốc hết... và toàn thể dân đinh trong làng đều đứng dậy để phù Lê chống lại Tây Sơn..
Nghe tin, tướng Vũ Văn Nhậm liền đem quân tràn sang ...Dân làng Vĩnh Lại chống cự không được , bao nhiêu "Đô Đốc , Quận công.." đều bị giết , hoặc bị bắt hết. Tai họa đã xãy ra cho cả làng với bao nỗi thảm thương...
Kimnamlang
10-09-2008, 10:39 PM
Thằng Trứ Phá Đền
Năm Minh Mạng (1791-1840) năm thứ 14, Nguyễn Công Trứ được vua điều đi khẩn hoang ở vùng Hải Dương, Nguyễn Công Trứ thấy địa thế cần phải đào con sông, đào sông thì phải phá đền thờ Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông ra lệnh cho dân phu phá đền để khai phá công trường. Khi sai người đào mang bát hương ra, Nguyễn Công Trứ chợt thấy dưới bát hương có một tấm bia đá nhỏ phủ vải điều. Nguyễn Công Trứ lau sạch đọc được các câu đã ghi :
Minh Mạng thập tứ
Thằng Trứ phá đền
Phá đền phải làm đền
Nào ai đụng đến doanh điền nhà bay
Nguyễn Công Trứ lập tức thảo sớ về kinh, xin bãi bỏ lệnh phá đền. Ông còn cho người sửa sang lại đền Trạng khang trang hơn. Từ đó, ông không còn nghĩ đến việc phá đền để đào sông nữa.
Kimnamlang
10-09-2008, 10:47 PM
Công Chúa Nước Tàu
Chuyện kể rằng làng Trạng có một nho sinh nghèo tên Bùi Sinh. Một hôm, chàng nho sinh ấy buồn rầu đến hỏi Trạng về con đường để làm ăn khấm khá hơn, hầu có tiền để theo đuổi đèn sách.
Trạng nghe nói, liền hỏi năm, ngày, tháng, giờ sinh của anh rồi bảo:
- Sáng mai anh cứ ra bờ sông mà đón, hễ gặp cái gì, dẫu dơ bẩn đến đâu, anh cũng cứ vớt lên, đừng ngại, rồi anh sẽ giàu đấy.
Chàng thư sinh họ Bùi từ tạ ra về. Theo lời Trạng dặn, sáng ra, vào lúc đúng giờ dần, anh ta ra mé sông để đợi. Anh vừa ra thì trời nổi giông gió, sấm sét ầm ầm, rồi mưa đổ như trút nước.
Thấy vậy, anh ta đã thối chí, toan chạy trở lại, nhưng lòng tin vào Trạng khiến anh quyết cố gắng. Hơn nữa, biết đâu đây là cái điềm hên.
Nghĩ thế nên anh ta ráng sức chịu trận, ngồi mãi từ giờ dần sang giờ mão, rồi giờ thìn, giờ tỵ… mưa vẫn như trút nước, giông gió vẫn ào ạt. Vừa lạnh, vừa đói, anh ta vẫn không nản chí, ngồi mãi cho đến lúc trước mắt anh, từ phía ngoài xa, có một cái thây người chết theo gió và sóng tạt vào bờ, tấp ngay chỗ trước mặt anh ngồi.
Nhớ lời Trạng gặp gì vớt nấy, nên dù cái thây ma đã sình và trương lên, mùi hôi thối không thể nào chịu được, anh ta cũng cố gắng vớt lên.
Khi đem cái thây ma lên đến bờ, trời bỗng tạnh mưa hẳn, giông gió, sấm sét cũng không còn. Xem kỹ lại xác chết trôi ấy là xác của một cô gái. Cái xác tuy đã trương to, nhưng nét mặt vẫn còn đẹp như hoa. Trông qua cách ăn vận quần áo trên người thì ra là một cô gái Tầu, trên người mang rất nhiều nữ trang, toàn là thứ nữ trang đắt tiền, trong mình còn giắt thêm một số tiền lớn. Anh ta lấy số tiền ấy lo việc chôn cất tử tế cho cô gái.
Chôn xong, anh nho sinh trở về nhà, vừa đi vừa nghĩ, thầm phục Trạng là một vị thánh tiên tri tài giỏi.
Bẵng đi một thời gian, bỗng có tin, có một cô công chúa Tàu đi thuyền ra chơi Nam Hải, không may nửa chừng bị sóng đánh lật. Tất cả người trong thuyền đều chết, không biết tử thi trôi giạt về đâu. Nếu có giạt vào địa phận nước Nam thì làm ơn cho biết, sẽ được thiên triều trọng thưởng.
Ra cái tử thi người con gái mà Bùi Sinh vớt ấy, chính là cái xác của công chúa nước Tầu. Khi nhận được loa truyền của vua, Bùi Sinh bèn đem việc tâu lên. Tin truyền sang Trung Hoa, vua Tàu cho người đến xem xét thì quả thật như vậy.
Để đền ơn Bùi Sinh,vua Tàu ban thưởng cho anh rất trọng hậu. Thế là từ một hàn sĩ, bỗng chốc Bùi Sinh đã có nhà cao cửa rộng, kẻ hầu người hạ, nức tiếng nhất vùng. Chuyện Bùi Sinh trở nên giàu có do sự chỉ vẽ của Trạng Trình lan ra, thì tiếng tăm của Trạng nổi lên như cồn. Sĩ tử các nơi nô nức tìm đến xin nhập môn ngày một đông, đến nỗi không còn chỗ chứa.
Kimnamlang
10-09-2008, 10:49 PM
Hoành Sơn Nhất Đái
Sau khi nhà Lê bị Mạc Đăng Dung chiếm ngôi, con của một vị tướng triều Lê tên là Nguyễn Hoàng Dụ trốn sang Lào, được vua Lào cho nương náu ở xứ Cẩm Châu, trấn Nam Phủ, tỉnh Thanh Hoá.
Năm Quý Tỵ (1532) Nguyễn Kim lập con út vua Chiêu Tông lên làm vua, gọi là Trang Tông.
Để mưu đồ đại sự, Nguyễn Kim thu nạp một kiện tướng ở tỉnh Thanh Hoá tên là Trịnh Kiểm, sau là rể của Nguyễn Kim.
Năm Canh Tý (1540), Nguyễn Kim đem quân đánh chiếm Nghệ An và thu phục luôn cả Thanh Hoá. Nhưng bỗng dưng Nguyễn Kim chết vì ngộ độc (1545), mọi bình quyền về tay Trịnh Kiểm.
Việt Nam lúc bấy giờ bị chia đôi: từ Sơn Nam trở ra thuộc nhà Mạc, gọi là Bắc Triều. Từ Thanh Hoá trở vào là khu vực của nhà Lê hay gọi là Nam Triều.
Nguyễn Kim mất, để lại hai người con trai là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng, cả hai tuy còn ít tuổi nhưng đã bộc lộ tài năng xuất sắc hơn người. Trịnh Kiểm không khỏi lo sợ cả hai sau này có thể tranh giành địa vị với mình, nên đã ngấm ngầm ngăn trở, và vì thế Nguyễn Uông chỉ mắc một lỗi nhỏ, Trịnh Kiểm cũng buộc Nguyễn Uông phải chịu phép gia hình. Nguyễn Hoàng thấy anh bị hại, sợ đến lượt mình, liền cử người kín đáo lên hỏi Trạng Trình. Trạng không trả lời cụ thể, chỉ đứng ngắm đàn kiến bò trên hòn non bộ trước sân nhà và thốt lên một câu:
“Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”
Tạm dịch nghĩa:
“Hoành sơn một dãy, dung thân ngàn đời”
Từ câu nói đó, Nguyễn Hoàng nghiệm ra rằng trạng Trình đã bày cho kế đi vào phương Nam lập nghiệp. Nguyễn Hoàng vội vàng đến nói riêng với bà chị, lựa lời cho ông vào trấn đất Thuận Hoá, phía Nam dãy Hoành Sơn. Nhờ thế mà lập nên cơ nghiệp của họ Nguyễn ở Đàng Trong, truyền nối lâu dài.
Khi cơ đồ của nhà Nguyễn trở nên vững vàng, Nguyễn Hoàng có cho người mang lễ vật đến tạ Trạng Trình, nhưng Trạng đã cương quyết khước từ.
Kimnamlang
10-09-2008, 10:50 PM
Lê Tồn, Trịnh Tại - Lê Bại, Trịnh Vong
Nhà Lê Trung Hưng dùng căn cứ ở Thanh Hoá tiến mạnh ra kinh đô. Tuy nhiên các phe phái Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn vẫn hằm hè, đấu trí, đấu sức nhau, mưu sự thịnh vượng cho mình. Nhiều danh sĩ lại phân vân, cân nhắc chẳng biết nên theo Lê, hay ở lại với Mạc. Trong số ấy có Phùng Khắc Khoan, mãi không chọn được hướng đi để tồn tại và phát huy hết khả năng của mình, Phùng Khắc Khoan đã tìm đến Am Bạch Vân để vấn kế Trạng Trình.
Chuyện kể rằng, khi nghe Phùng Khắc Khoan hỏi han đến sự thể, Trạng Trình không hề bảo cho Phùng Khắc Khoan là nên định hướng thế nào, dù họ đã có cả buổi ngồi đàm đạo, ăn cơm, uống rượu.
Phùng Khắc Khoan không khỏi băn khoăn, trằn trọc mãi đến gần sáng mới chợp mắt được, vừa lúc ấy Trạng Trình đến đập cửa và nói vọng vào:
- Gà đã gáy rồi, sao không dậy, còn ngủ gì nữa?
Ông Khoan giật mình thức giấc, ông ngầm hiểu ý của Trạng Trình là đã đến lúc phải vào Thanh Hoá với nhà Lê. Phùng Khắc Khoan vội vàng bật dậy, sắp đặt hành lý rồi đến chào từ biệt Trạng Trình.
Trạng vẫn không nói gì, chờ tới lúc Phùng Khắc Khoan quay gót, Trạng liền cuốn một chiếu ngắn ném theo. Nghe tiếng chiếu rơi phịch cạnh chân mình, Phùng Khắc Khoan càng thêm hiểu ý của Trạng: “Phải hành động nhanh như cuốn chiếu, chứ đừng chần chờ gì nữa”.
Quả nhiên vào Thanh Hoá, Phùng Khắc Khoan nhanh chóng được trọng dụng và được Thái sư Trịnh Kiểm tin tưởng, việc gì quan trọng cũng hỏi ý kiến.
Khi Lê Trung Tông mất, Trịnh muốn nhân dịp này để nhà Trịnh thay hẳn nhà Lê, vì thực chất nhà vua chỉ là hư vị, mọi công lao trung hưng và quyền bính đều ở trong tay họ Trịnh cả. Trịnh Kiểm hỏi ý, Phùng Khắc Khoan lúng túng không biết trả lời thế nào, liền bí mật phái sứ giả ra Hải Dương hỏi ý kiến Trạng Trình.
Người được cử đi về kể lại:
- Quan Trạng không bảo ban gì cả. Ngài cũng không có thư hồi đáp.
Phùng Khắc Khoan gặng tới:
- Thế ông được quan Trạng tiếp đãi ra sao? Và những câu quan Trạng nói ông còn nhớ kỹ không?
Người được cử đi lắc đầu:
- Dạ, ngài Trạng tiếp đãi rất chu đáo. Nhưng ngoài những câu giao tế bình thường, ngài chẳng nói gì hết. Chỉ trong lúc nhấp chén trà với tôi, quan Trạng có bảo người nhà một câu không ăn nhập gì vào câu chuyện cả!
- Là câu gì thế? Phùng Khắc Khoan thắc mắc.
Người đàn ông đáp sau một thoáng ngẫm nghĩ:
- Quan ngài bảo: “Năm nay thóc giống không tốt, chúng bay nên tìm thóc cũ mà gieo mạ”.
Phùng Khắc Khoan mừng rỡ bảo:
- Đó chính là lời Trạng nói với chúng ta đấy. Đâu, ông cố nhớ lại ngài Trạng còn nói gì thêm không?
- Dạ nếu thế thì có chuyện này. Vừa cạn tuần trà xong, ngài Trạng đứng lên, xin ra chùa thắp hương. Tôi giữ lễ, xin phép đi theo, đến cửa chùa, nhà sư ra đón. Trạng bảo nhà sư: “Giữ chùa, thờ Phật thì được ăn oản”.
Phùng Khắc Khoan gật đầu, rồi vội vàng đội khăn, mặc áo vào gặp Trịnh Kiểm, thuật lại từng lời nói, từng cử chỉ của Trạng Trình. Kiểm hiểu ngay ý Trạng Trình dặn: Phải tôn Lê thì mới hưởng phúc lâu dài. Và sau đó, Kiểm cho tìm người cháu của ông Lê Trừ, là anh ruột vua Lê Thái Tổ, tên là Lê Duy Bang ở làng Bố Vệ, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá đem về phò lên ngôi, tức là Lê Anh Tông.
Về sau, con cháu chúa Trịnh cũng đã nhiều lần muốn chiếm ngôi nhà Lê, nhưng cụ Trạng Trình đều khuyên khéo:
"Lê tồn, Trịnh tại; Lê bại, Trịnh vong"
Tuy nhà Lê suy nhược, nhưng Lê còn thì Trịnh mới đứng vững được.
Lời sấm của Trạng Trình không sai, khi vua Lê Chiêu Thống để mất ngai vàng thì dòng Trịnh cũng chẳng còn ai xứng chúa nữa.
Kimnamlang
10-09-2008, 10:58 PM
Số Phận Chiếc Quạt Giấy Và Cái Gối
Cụ Trạng Trình muốn thử xem lý số mà cụ học được có hiệu nghiệm không. Cụ làm hai thí nghiệm sau đây:
* Cụ làm một chiếc quạt giấy. Làm xong, Cụ bói số mệnh của cây quạt giấy nầy thì được quẻ: "Nữ nhân phá hủy".
Cụ viết 4 chữ nầy lên quạt và treo quạt ở đầu giường.
Đến gần tới ngày giờ quẻ ứng, Cụ ngồi trên giường luôn luôn để mắt theo dõi quẻ ứng hiện như thế nào?
Chợt bên hàng xóm có người đến mời Cụ qua dự đám giỗ, nhưng Cụ bận theo dõi chiếc quạt nên chưa thể qua ngay được. Người hàng xóm đến mời nữa, và nói với Cụ Bà giục Cụ đi qua để trễ tiệc. Cụ Bà vào phòng hối Cụ đi mấy lần, nhưng Cụ vẫn lo theo dõi cái quạt nên chưa thể đi được. Cụ Bà bực tức thấy ông ngồi không mà chưa chịu đi, mắt lại nhìn cái quạt không rời. Cụ Bà liền giựt phăng cái quạt, xé đi rồi nói:
- Quí báu gì cái quạt giấy nầy mà ông cứ nhìn nó hoài như mất thần, để người ta qua đây ba bốn phen mời mọc.
Cụ cười xòa vui vẻ và liền đi ngay qua đám giỗ.
Cụ nhận thấy lẽ nhiệm mầu trong khoa lý số đã thể hiện rất chính xác. Nhưng Cụ vẫn còn chút hồ nghi sự việc xảy ra có phải do ngẫu nhiên chăng?
Do đó, Cụ làm thêm thí nghiệm thứ nhì:
* Cụ làm một chiếc gối bằng gỗ để ở đầu giường. Cụ bói số mệnh chiếc gối thì được quẻ: "Thử đầu nhi phá".
Cụ rất ngạc nhiên vì gối kê ở đầu giường luôn luôn thì làm sao chuột phá hỏng được. Cụ ghi lên gối 4 chữ ấy rồi chờ thời gian xem kết quả.
Tới ngày tháng đúng như trong quẻ đã định, có một ông bạn thân đến thăm Cụ và ngồi nói chuyện với Cụ trong phòng.
Chợt có một con chuột thập thò ở gầm ghế, ông bạn quơ tay xua đuổi, con chuột không chạy đi, mà cứ ở đó nhìn ông lau láu như có ý chọc tức. Ông bạn nổi giận, thuận tay lấy ngay cái gối gỗ ném vào con chuột. Con chuột lanh chân chạy thoát, còn chiếc gối gỗ thì va vào gạch gãy ra làm nhiều mảnh.
nguoiyeuvhnt
11-09-2008, 07:43 AM
cảm ơn KNL cho đọc nhiều câu chuyện hay về ông Trạng Trình.
vBulletin® v3.6.8, Copyright ©2000-2010, Jelsoft Enterprises Ltd.